4 xu hướng chiến lược mới, phổ biến trên thế giới dành cho nhà quản trị

10 Tháng Sáu, 2019

Để việc hoạch định chiến lược cho một doanh nghiệp được tiến hành tốt, nhà quản trị cần quan tâm đến một số xu hướng mới đang phổ biến trên thế giới hiện nay.

1. Thuê ngoài

Thuê ngoài (outsourcing) được hiểu là hành động doanh nghiệp (DN) hợp đồng thuê các tổ chức chuyên nghiệp bên ngoài, tiến hành thực hiện nhóm việc không then chốt và không tạo ra doanh thu.

Hình thức này mục đích để giảm chi phí cho DN và hướng đến giải quyết một số vấn đề như thiếu nhân sự có kỹ năng hay cần tinh giản bộ máy. Khi hoạt động tốt, thuê ngoài cắt giảm được chi phí, giúp cho DN tái tập trung vào ngành kinh doanh cốt lõi của mình. 

Bên cạnh những cơ hội đem lại cho DN thì thuê ngoài cũng tiềm ẩn một số thách thức nhất định. Nhiều trường hợp trên thế giới, DN đi thuê ngoài thất bại vì các phát sinh chi phí không dự kiến trước, thuê ngoài làm những việc không thích hợp hoặc mất kiểm soát hoạt động. Bỏ qua vấn về chi phí, nếu thuê ngoài quá mức có thể đưa DN vào vị thế phụ thuộc hoặc nhân nhượng.

Khi một tổ chức không còn thực hiện được nhiệm vụ then chốt sẽ mất đi năng lực chuyên biệt, điểm mạnh nguồn lực của một công ty bị xói mòn, từ đây lựa chọn chiến lược khả dĩ trở nên hạn chế hơn. Đánh giá và thay đổi nhà cung cấp khi cần thiết là một phương tiện quản trị chủ động để khắc phục những bất lợi này.

>> Doanh nghiệp thời đại 4.0 và bài toán quản trị tổng thể

2. Sản xuất ở hải ngoại 

Sản xuất ở hải ngoại (offshoring) nghĩa là tái bố trí toàn bộ hoặc một phần quá trình chế tạo/ kinh doanh sang quốc gia khác, cũng nhằm giảm chi phí. Phương pháp này tương tự như thuê ngoài, nhưng DN có thể giữ lại sự kiểm soát hoạt động ở hải ngoại thay vì giao hẳn cho các DN đó.

Toàn cầu hóa dẫn đến việc tăng thuê ngoài, sản xuất tại nước ngoài và kèm theo một số tác động không dễ xác định khác. Từ kinh nghiệm cho thấy khi DN theo đuổi sử dụng lao động rẻ ở nước ngoài, tiền lương của công nhân có kỹ năng thấp thường bị giảm, song quan điểm khác lại cho rằng sản xuất tại nước ngoài và thuê ngoài có thể mang lại tác động tích cực cho tiền lương và sự phát triển kinh tế ở các nước giàu.

Trong một nước giàu, một ngành có thể dựa trên nhân tố đầu vào tại địa phương như công nhân chuyên nghiệp mà DN cạnh tranh không có tại thị trường nước ngoài để tạo ra lợi thế tại thị trường mới, thúc đẩy năng suất trong toàn ngành, đồng thời tạo điều kiện cho DN trả lương cao hơn.

Thuê ngoài và sản xuất tại nước ngoài khá phức tạp, đặc biệt khi các công ty tiến hành thuê ngoài làm những việc nhạy cảm về vấn đề an toàn hoặc liên quan đến chính trị. Thuê ngoài và sản xuất tại nước ngoài cũng có thể khó có hướng giải quyết thỏa đáng do sự khác biệt về môi trường và sự phức tạp trong quan hệ giữa DN với quốc gia sở tại.

Đáng chú ý, không phải bao giờ thuê ngoài cũng chỉ đề cập đến việc DN ở các nước phát triển tìm lao động ở những nền kinh tế mới nổi, mà vẫn có trường hợp ngược lại.

3. Quan điểm hàng hóa (commodities)

Về viễn cảnh chiến lược, quan điểm hàng hóa đề cập sự khó khăn ngày một tăng cao mà DN gặp phải trong việc phân biệt sản phẩm và dịch vụ so với DN khác.

Những cải tiến nhanh chóng về kỹ thuật đã tạo ra vô số cơ hội cho DN trong việc đa dạng hóa sản phẩm với DN cạnh tranh. Vấn đề nảy sinh là sự khác biệt có thể vượt ra ngoài nhu cầu người mua, và có thể làm họ bối rối khi có đến quá nhiều lựa chọn mà lại ít thời gian tìm hiểu.

Để đơn giản hóa lựa chọn, người mua có xu hướng xem sản phẩm như hàng hóa và biến quá trình mua hàng thành việc đơn thuần cân nhắc trên vài yếu tố then chốt, hay đặc điểm quan trọng của sản phẩm, độ tin cậy, cũng như sự thuận tiện.

Quan điểm hàng hóa có thể tạo ra các vấn đề nghiêm trọng cho DN, dẫn tới phải chi tiêu thêm để nâng cao tính năng sản phẩm mà vẫn phải đáp ứng nhu cầu quan tâm đến giá cả từ người mua.

4. Định hướng khách hàng đại chúng (mass customization)

Một xu hướng nữa là định hướng khách hàng đại chúng. Xu hướng này đề cập khả năng cung cấp sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu đặc biệt của người mua.

Định hướng khách hàng đại chúng cho phép DN đặc trưng hóa sản phẩm theo khách hàng, đồng thời vẫn có được hiệu quả kinh tế theo quy mô sản xuất (tình huống khi sản lượng tăng thì chi phí một đơn vị sản phẩm hay dịch vụ sẽ giảm).

Lý thuyết tổng quát có đề cập định hướng khách hàng đại chúng tỷ lệ nghịch với hiệu quả kinh tế theo quy mô. Song thực tế, các DN vẫn có thể đạt được cả định hướng khách hàng đại chúng lẫn hiệu quả kinh tế theo quy mô nhờ việc tiếp cận công nghệ và sáng tạo.

Lưu ý là quan điểm hàng hóa (commodities) và định hướng khách hàng đại chúng (mass customization) có liên quan với nhau theo một mức độ nhất định. Giả sử, công nghệ tạo thuận lợi cho chiến lược định hướng khách hàng đại chúng có thể giúp DN vượt qua những thách thức từ quan điểm hàng hóa. 

Có thể bạn quan tâm:

>> Xu hướng ứng dụng phần mềm ERP trong Doanh nghiệp

Theo Doanh nhân Sài Gòn