10 điểm mới về lương, thưởng áp dụng từ 2021 người lao động cần biết

30 Tháng Bảy, 2020

Từ ngày 1/1/2021, Bộ Luật Lao động 2019 chính thức có hiệu lực thi hành. Theo đó, có nhiều điểm mới về tiền lương, tiền thưởng người lao động cần phải biết để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mình.

1. Người lao động có quyền tự quyết chi tiêu lương của mình

Người sử dụng lao động không được ép buộc người lao động dùng lương để mua hàng hóa, dịch vụ của mình/đơn vị khác. Cụ thể, theo quy định tại Khoản 2 Điều 94 BLLĐ 2019 thì:

- Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của NLĐ;

- Người sử dụng lao động không được ép buộc NLĐ chi tiêu lương cho việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng LĐ chỉ định.

2. Người lao động phải được nhận thông báo về bảng kê trả lương trong mỗi lần nhận lương

Theo Khoản 3 Điều 95 BLLĐ 2019, mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho NLĐ, trong đó thể hiện chi tiết các nội dung sau đây:

- Tiền lương;

- Tiền lương làm thêm giờ;

- Tiền lương làm việc vào ban đêm;

- Nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)

>> Tìm hiểu: Tính năng quản lý lao động của phần mềm BRAVO

3. Điểm mới về lãi suất khi tính tiền đền bù do chậm trả lương cho NLĐ

Căn cứ Khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019, trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục, song vẫn không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải đền bù cho NLĐ một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho NLĐ công bố tại thời điểm trả lương.

4. Người sử dụng lao động phải chịu chi phí mở tài khoản cho NLĐ nếu trả lương qua ngân hàng

Trường hợp trả lương qua tài khoản cá nhân của NLĐ được mở tại ngân hàng, căn cứ Khoản 2 Điều 96 BLLĐ 2019, thì người sử dụng lao động phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương.

5. Bổ sung nhiều trường hợp NLĐ được nghỉ việc riêng và hưởng nguyên lương

Cụ thể, theo Bộ Luật Lao động 2019, NLĐ được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương và phải thông báo với người sử dụng lao động với những trường hợp sau đây:

- Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

- Con đẻ, con nuôi kết hôn: nghỉ 01 ngày;

- Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi; cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; con đẻ, con nuôi chết: nghỉ 03 ngày.

6. Người sử dụng lao động phải trả tiền lương ngừng việc cho NLĐ trong một số trường hợp

Tiền lương ngừng việc khi NLĐ phải ngừng việc vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, hỏa hoạn, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế.

Theo Khoản 3 Điều 99 Bộ Luật Lao động 2019, trong trường hợp này, 02 bên sẽ thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:

- Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;

- Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do 02 bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.

>> Chính sách tiền lương mới theo NĐ 28/2020/NĐ-CP

7. NLĐ được 02 ngày nghỉ dịp Quốc khánh 2/9 và hưởng nguyên lương

Bắt đầu từ năm 2021, NLĐ sẽ được nghỉ 02 ngày và hưởng nguyên lương vào dịp lễ Quốc khánh (hiện nay, NLĐ chỉ được nghỉ 01 ngày và hưởng nguyên lương vào ngày 2/9) theo một trong hai phương án sau do Thủ tướng Chính phủ quyết định:

- Phương án 1: Nghỉ vào ngày 1/9 và ngày 2/9.

- Phương án 2: Nghỉ vào ngày 2/9 và ngày 3/9.

8. NLĐ có thể nghỉ việc ngay mà không cần báo trước nếu không được nhận lương đúng hạn

Quy định trên có tại Điểm b Khoản 2 Điều 35 BLLĐ 2019. Theo đó, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước cho người sử dụng lao động nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 97 BLLĐ 2019 (hiện hành phải báo trước 03 ngày).

9. Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai có thể được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày, đồng thời hưởng nguyên lương

Khoản 2 Điều 137 BLLĐ 2019 quy định LĐ nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết biết thì được chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

10. NLĐ được thưởng tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác

Căn cứ quy định tại Điều 104 Bộ Luật Lao động 2019 thì thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho NLĐ căn cứ vào kết quả SXKD, mức độ hoàn thành công việc của NLĐ (Bộ luật lao động hiện hành chỉ quy định về tiền thưởng);

Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở.

Theo DNSG

Có thể bạn quan tâm:

>> Kế toán lương và Thuế thu nhập cá nhân trên phần mềm BRAVO 8