Những lưu ý về luật lao động mới nhất tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP

04 Tháng Ba, 2021

Nhiều điểm mới trong quy định về điều kiện lao động và quan hệ lao động của Bộ luật Lao động năm 2019 đã được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Các quy định về pháp luật lao động luôn được nhiều người quan tâm. Mới đây, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều có trong Bộ luật Lao động 2019, nội dung liên quan đến điều kiện lao động và quan hệ lao động chính thức có hiệu lực từ 1/2/2021. Cụ thể có một số điểm cần lưu ý sau:

1. Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ của một số ngành, nghề, công việc đặc thù (Điều 7)

Điều 7 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định các ngành, nghề, công việc đặc thù gồm: Thành viên tổ lái tàu bay; nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, nhân viên sửa chữa chuyên ngành hàng không; nhân viên điều độ, khai thác bay. Thuyền viên thuộc thuyền bộ làm việc trên tàu Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài; thuyền viên được đơn vị doanh nghiệp Việt Nam cho thuê lại làm việc trên tàu biển nước ngoài. Đối tượng là quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào SXKD tại doanh nghiệp. Và, một số trường hợp khác do pháp luật quy định.

Theo đó, khi NLĐ tham gia làm các công việc đặc thù trên mà đơn phương chấm dứt HĐLĐ, hoặc đơn vị sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ đối đối tượng lao động này thì cần báo trước với thời hạn như sau:

- Tối thiểu là 120 ngày đối với HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc HĐLĐ xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên.

- Tối thiểu bằng 1/4 thời hạn của HĐLĐ đối với HĐLĐ có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Quy định về trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm (Điều 8)

Điều 46 của Bộ luật Lao động 2019 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc với người lao động (NLĐ) đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên tới khi HĐLĐ chính thức chấm dứt theo các điều khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật Lao động, ngoại trừ các trường hợp sau:

  • NLĐ đủ điều kiện hưởng lương hưu như quy định tại Điều 169 của Bộ luật Lao động và pháp luật về BHXH;
  • NLĐ tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên, mà không đưa ra được lý do chính đáng. Trường hợp được coi là có lý do chính đáng đã được quy định tại khoản 4 Điều 125 của Bộ luật Lao động.

Về việc chi trả trợ cấp mất việc làm, Điều 47 của Bộ luật Lao động quy định rõ, chủ sử dụng lao động có trách nhiệm phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho đối tượng là NLĐ đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật Lao động.

Trường hợp NLĐ có thời gian làm việc thường xuyên từ đủ trên 12 tháng bị mất việc làm, tuy nhiên thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định này vẫn ít hơn 24 tháng, thì đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động tối thiểu bằng 02 tháng tiền lương.

3. Quy định hình thức trả lương theo sản phẩm và lương khoán (Điều 54)

Theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, căn cứ vào tính chất công việc và điều kiện SXKD, người sử dụng lao động và NLĐ thỏa thuận trong HĐLĐ hình thức trả lương theo thời gian, theo sản phẩm và trả lương khoán. Cụ thể như sau:

- Tiền lương theo thời gian được trả cho NLĐ hưởng lương theo thời gian dựa vào thời gian làm việc theo tháng, tuần, ngày, giờ đã được thỏa thuận tại hợp đồng lao động.

- Tiền lương theo sản phẩm được trả cho NLĐ hưởng lương theo sản phẩm dựa vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm so với định mức lao động và đơn giá sản phẩm được giao.

- Tiền lương khoán được trả cho NLĐ hưởng lương khoán dựa vào khối lượng, chất lượng công việc cũng như thời gian để hoàn thành công việc đó.

>> Xem thêm: Bổ sung, điều chỉnh 04 quy định về tiền lương năm 2021

4. Lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới (Điều 78, Điều 80)

Trên tinh thần của Bộ luật lao động năm 2019, tại Nghị định số 145/2020/NĐ-CP có một số quy định mới nhằm tạo điều kiện cho người lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới trong quan hệ lao động.

Theo đó,  Điều 78 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định rõ Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động ưu tiên tuyển dụng lao động là nữ vào làm việc nếu họ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn làm công việc phù hợp với cả nam và nữ; ưu tiên giao kết HĐLĐ mới đối với người lao động nữ trong trường hợp HĐLĐ hết hạn; bên cạnh đó, lưu ý việc thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động nữ tốt hơn so với quy định của pháp luật.

Về việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động nữ, Điều 80 Nghị định quy định:

Khi khám sức khỏe định kỳ, người lao động nữ được thăm khám chuyên khoa phụ sản theo danh mục khám chuyên khoa phụ sản đã được Bộ Y tế ban hành.

Nghỉ đi khám thai: Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp tạo điều kiện cho NLĐ nữ đang mang thai được nghỉ đi khám thai nhiều hơn quy định tại Điều 32, Luật Bảo hiểm xã hội.

Nghỉ trong thời gian kỳ kinh nguyệt của lao động nữ: Trong thời gian có kinh nguyệt, người lao động nữ có quyền được nghỉ mỗi ngày 30 phút tính vào thời giờ làm việc mà vẫn hưởng đủ tiền lương theo HĐLĐ. Số ngày có thời gian nghỉ trong kỳ kinh nguyệt do hai bên thỏa thuận (tối thiểu là 03 ngày làm việc trong một tháng), sao cho phù hợp dựa vào điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của NLĐ nữ; thời điểm nghỉ cụ thể của từng tháng do NLĐ thông báo với người sử dụng lao động.

Trường hợp NLĐ nữ có yêu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định thì hai bên thỏa thuận dựa trên điều kiện thực tiễn để được bố trí nghỉ phù hợp. Nếu lao động nữ không có nhu cầu nghỉ và được sự đồng ý của người sử dụng lao động tiếp tục làm việc, thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định, NLĐ sẽ được trả thêm tiền lương theo công việc đã làm trong thời gian được nghỉ và thời gian làm việc này không tính vào thời giờ làm thêm của NLĐ.

Nghỉ trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi: NLĐ nữ đang trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi được quyền được nghỉ ngơi mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Trường hợp có nhu cầu nghỉ linh hoạt hơn so với quy định trên, thì NLĐ thỏa thuận với người sử dụng lao động để được bố trí nghỉ phù hợp. Đối với NLĐ không có nhu cầu nghỉ và được sự đồng ý của người sử dụng lao động thì ngoài tiền lương được hưởng theo quy định, NLĐ được trả thêm tiền lương cho công việc mình đã làm trong thời gian được nghỉ.

- Lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ cho lao động nữ: Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc, nhu cầu của NLĐ nữ cũng như khả năng của người sử dụng lao động. Trường hợp doanh nghiệp sử dụng từ trên 1.000 NLĐ nữ thì phải lắp đặt phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc.

-  Thời gian nghỉ để vắt, trữ sữa mẹ: Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp các đơn vị tạo điều kiện để NLĐ nữ nuôi con từ 12 tháng tuổi trở lên được vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc. Thời gian nghỉ do thỏa thuận của NLĐ và người sử dụng lao động.

5. Tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo tại nơi có nhiều lao động

Trong kế hoạch sử dụng đất của địa phương, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí dành quỹ đất để xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo tại những nơi có nhiều người lao động; xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo nhằm bảo đảm đáp ứng nhu cầu của NLĐ…

Tại nơi có nhiều lao động, nhà trẻ, lớp mẫu giáo dân lập, tư thục được hưởng các chính sách áp dụng cho cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp đã được quy định tại Điều 5 Nghị định số 105/2020/NĐ-CP về chính sách phát triển giáo dục mầm non. Đáng chú ý, Nhà nước có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động tổ chức, xây dựng hoặc hỗ trợ một phần chi phí xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo.

Ngoài ra, người sử dụng lao động còn được Nhà nước hỗ trợ thêm về chi phí như sau: Người sử dụng lao động sử dụng nhiều NLĐ nữ được giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Các khoản chi tăng thêm cho đối tượng lao động nữ nhằm bảo đảm bình đẳng giới và phòng, chống quấy rối hành vi tình dục tại nơi làm việc theo quy định tại Mục 3, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN do Bộ Tài chính quy định.

>>> Xem và tải Nghị định 145/2020/NĐ-CP tại đây.