Bổ sung, điều chỉnh 04 quy định về tiền lương năm 2021

18 Tháng Hai, 2021

Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019, sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/2/2021 tới đây. Theo đó, có 04 quy định mới về tiền lương đã được điều chỉnh, áp dụng từ năm 2021 được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định này.

1. Hình thức trả lương cho người lao động

Nếu theo quy định của Điều 94 BLLĐ năm 2012 trước đây, hình thức trả lương cho người lao động là do người sử dụng lao động tự quyết định; thì kể từ 1/1/2021, khi Bộ Luật lao động 2019 chính thức có hiệu lực, hình thức trả lương lại dựa trên thỏa thuận chung của người lao động và người sử dụng lao động.

Như vậy, có 03 hình thức trả lương mới người lao động là: Theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán. Cụ thể, được hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 54 Nghị định 145/2020/NĐ-CP như sau:

Trả tiền lương theo thời gian: là trả cho NLĐ hưởng lương theo thời gian, được căn cứ vào thời gian làm việc là tháng/tuần/ngày/giờ theo thỏa thuận trong HĐLĐ, cụ thể:

- Tiền lương tháng trả cho 01 tháng làm việc;

- Tiền lương tuần trả cho 01 tuần làm việc (nếu thỏa thuận trong HĐLĐ là tiền lương theo tháng thì cách trả tiền lương tuần sẽ bằng tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần;

- Tiền lương ngày trả cho 01 ngày làm việc:

  • Nếu trong HĐLĐ thỏa thuận là tiền lương theo tháng thì tiền lương ngày của NLĐ bằng tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng;
  • Nếu trong HĐLĐ thỏa thuận là tiền lương theo tuần thì tiền lương ngày của NLĐ bằng tiền lương tuần chia cho số ngày làm việc trong tuần theo thỏa thuận;
  • Tiền lương giờ được trả cho một giờ làm việc (nếu trong thỏa thuận, tiền lương trả theo tháng/tuần/ngày thì tiền lương giờ của NLĐ bằng tiền lương ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong ngày).

Trả tiền lương theo sản phẩm:

- Trả cho NLĐ hưởng lương theo sản phẩm;

- Căn cứ vào định mức lao động, mức độ hoàn thành dựa trên chất lượng và số lượng sản phẩm cũng như đơn giá sản phẩm được giao.

Trả theo tiền lương khoán:

- Trả cho NLĐ hưởng lương khoán;

- Dựa trên khối lượng công việc cũng như chất lượng và thời gian phải hoàn thành việc.

2. Thay đổi về tiền lương làm thêm giờ

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 98 Bộ Luật lao động năm 2019 về tiền lương làm thêm giờ cụ thể là: khi làm thêm giờ, người lao động sẽ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc mình đang làm như sau:

- Vào ngày thường, trả lương NLĐ ít nhất bằng 150%;

- Vào ngày nghỉ hằng tuần, trả lương NLĐ ít nhất bằng 200%;

- Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì trả lương ít nhất bằng 300%, chưa kể gồm cả tiền lương ngày lễ, Tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương ngày.

So với quy định cũ tại Điều 96 BLLĐ năm 2012, nội dung trên đã bổ sung quy định về tiền lương khi làm việc vào ngày Tết. Bên cạnh đó, khoản tiền lương thực trả cho công việc của người lao động còn được xác định là căn cứ để tính tiền lương làm thêm giờ (thay thế cho hình thức trả tiền lương theo công việc đang làm được áp dụng trước đây).

Về cụ thể cách tính lương làm thêm giờ đã có hướng dẫn cụ thể tại Điều 55 Nghị định 145/2020/NĐ-CP như sau:

* Trường hợp chi trả lương NLĐ hưởng lương theo thời gian:

* Trường hợp chi trả lương NLĐ hưởng lương theo sản phẩm:

Chú thích:

- Mức 150%: áp dụng khi làm thêm vào ngày thường;

- Mức 200%: áp dụng khi làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần;

- Mức 300%: áp dụng khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương.

3. Điều chỉnh cách tính lương khi làm việc vào ban đêm

Tương tự như các khoản tiền lương làm thêm giờ, tiền lương trả cho người lao động làm việc vào ban đêm năm 2021 cũng được tính trên cơ sở tiền lương thực trả theo công việc đang làm (quy định trước đây là tiền lương theo công việc đang làm).

Cụ thể, Điều 56 và Điều 57 của Nghị định 145/2020 đã nêu rõ công thức tính tiền lương khi làm việc vào ban đêm như sau:

* Tiền lương trả khi làm việc vào ban đêm:

- Trường hợp chi trả lương NLĐ nếu hưởng lương theo thời gian:

- Trường hợp chi trả lương NLĐ nếu hưởng lương theo sản phẩm:

* Tiền lương làm thêm giờ trả khi làm ban đêm:

- Người lao động hưởng lương theo thời gian:

- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm:

Trong đó, cách để xác định tiền lương giờ hoặc đơn giá tiền lương sản phẩm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hay của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương cho người lao động sẽ được tính như sau:

- Ngày bình thường:

  • Ít nhất bằng 100% đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường (trước khi NLĐ làm thêm giờ vào ban đêm, không làm thêm giờ vào ban ngày);
  • Ít nhất bằng 150% đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường (trước khi NLĐ làm thêm giờ vào ban đêm,  làm thêm giờ vào ban ngày);

- Ngày nghỉ hằng tuần: Ít nhất bằng 200% đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường;

- Ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương: Ít nhất 300% đơn giá tiền lương sản phẩm của ngày làm việc bình thường.

4. Doanh nghiệp phải chịu phí mở thẻ và chuyển khoan khi trả lương qua thẻ ATM

Theo Điều 96 BLLĐ năm 2019, lương của NLĐ vẫn được trả bằng tiền mặt hoặc chọn trả qua hình thức tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng.

Song, đáng lưu ý tại Điều này là khi trả lương qua tài khoản ngân hàng của người lao động thì doanh nghiệp phải trả tất cả những loại phí liên quan đến việc mở tài khoản và chuyển tiền lương. Trong khi trước đây, việc trả các loại phí này sẽ do thỏa thuận từ hai bên.

Nội dung này được hướng dẫn chi tiết tại Khoản 2 Điều 54 Nghị định 145/2020/NĐ-CP: Tiền lương của NLĐ theo các hình thức trả lương quy định tại Khoản 1 Điều này được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của NLĐ được mở tại ngân hàng. Người sử dụng lao động (doanh nghiệp) phải trả các loại phí liên quan đến việc mở tài khoản c chuyển tiền lương khi chọn trả lương qua tài khoản cá nhân của NLĐ.

Như vậy, quy định mới đã phân định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc trả các loại phí liên quan đến mở tài khoản ngân hàng để trả lương và phí chuyển khoản lương cho người lao động.

So với những quy định tại Bộ luật Lao động 2012 là căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lương trên thị trường lao động, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia; thì tại 04 quy định về tiền lương năm 2021 mới của Bộ Luật lao động 2019 sẽ có hiệu lực chính thức từ 01/02/2021 đã bổ sung thêm nhiều căn cứ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng 2021. Cụ thể, bổ sung cách tính dựa trên chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc làm và thất nghiệp, quan hệ cung, cầu lao động, năng suất lao động, khả năng chi trả của doanh nghiệp.

Có thể bạn quan tâm: