Những điểm mới về hợp đồng lao động năm 2021

23 Tháng Mười, 2020

Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 sẽ chính thức có hiệu lực và ngày 01/01/2021 tới đây. So với luật cũ thì Luật mới này có khá nhiều điểm mới, do đó mà cả người sử dụng lao động và người lao động cũng cần phải lưu tâm đến các vấn đề này. Cụ thể, trong bài viết sau sẽ đề cập đến 10 điểm mới liên quan đến hợp đồng lao động để bạn đọc nắm vững.

1. Bổ sung quy định liên quan đến xác định hợp đồng lao động

Điểm thay đổi đầu tiên của luật liên quan đến việc xác định hợp đồng lao động nhắm chấm dứt việc dùng tên gọi khác cho hợp đồng lao động nhằm né tránh nghĩa vụ theo quy định của nhà nước. Cụ thể tại điều 13 Luật lao động 2019 nêu rõ: Trong trường hợp các bên có thỏa thuận bằng tên gọi khác, thì thỏa thuận đó vẫn coi là HĐLĐ khibao gồm hai nội dung:

  • Việc làm được thỏa thuận bằng hình thức trả công, tiền lương;
  • Việc làm đó có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Như vậy, với quy định mới này thì xuất hiện với tên gọi nào nhưng nếu có hai nội dung trên thì đều được coi là HĐLĐ, như vậy nó sẽ làm tăng tính nhận diện của HĐLĐ.

Có thể thấy, quy định mới đã tăng tính nhận diện của HĐLĐ, dù xuất hiện với tên gọi nào nhưng nếu có

2. Công nhận HĐLĐ điện tử

Quy trình là trước khi người lao động được nhận vào làm việc thì họ cần ký hợp đồng với người sử dụng lao động. Theo Luật lao động năm 2019 thì ghi nhận 02 hình thức của hợp đồng theo quy định hiện nay là bằng lời nói và bằng văn bản. Bên cạnh đó, Bộ luật này đã bổ sung thêm hình thức hợp đồng lao động điện tử.

Tại điều 14 Luật lao động năm 2019 nêu rõ: “Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.”

Theo quy định này thì có thêm 1 lựa chọn về hình thức hợp đồng khi việc giao kết hợp đồng để việc ký kết hợp đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động. Như vậy, mọi thứ có thể linh hoạt hơn.

3. Người sử dụng lao động (NSDLĐ) không được buộc Người lao động (NLĐ) làm việc để trả nợ

Theo quy định tại Điều 20 BLLĐ năm 2012, khi ký kết thực hiện hợp đồng, người sử dụng lao động không được thực hiện các hành vi sau đây:

  • NSDLĐ không được giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của NLĐ;
  • NSDLĐ không được phép yêu cầu NLĐ phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Ngoài những nội dung trên thì khi Luật lao động có hiệu lực vào ngày 01/01/2021 thì người sử dụng lao động không được buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ. Quy định này được nêu rõ tại Khoản 3 Điều 17 Bộ luật này giúp đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người lao động.

4. Chính thức bỏ hợp đồng thời vụ

Khoản 1 Điều 20 BLLĐ năm 2019 chỉ còn 02 loại hợp đồng lao động là hợp đồng không xác định thời hạn và hợp đồng xác định thời hạn trong khi quy định hiện hành là 03 loại hợp đồng.

Với quy định hiện hành có 03 loại hợp đồng, nhưng Khoản 1 Điều 20 BLLĐ năm 2019 chỉ còn 02 loại hợp đồng lao động là hợp đồng không xác định thời và hợp đồng xác định thời hạn. Đây cũng là điểm mà các doanh nghiệp cần hết sức lưu tâm.

Xem thêm: 10 nội dung phải có trong HĐLĐ kể từ ngày 01/01/2021

5. Nội dung thử việc có thể được quy định trong HĐLĐ

Theo quy định cũ thì người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc. Tuy nhiên, khi quy định mới có hiệu lực từ đầu năm 2020 tới đây thì người sử dụng lao động và người lao động có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Bên cạnh đó thì không áp dụng thử việc với NLĐ ký HĐLĐ dưới 01 tháng cũng như ban hành quy định riêng về thời gian thử việc (không quá 180 ngày) với người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

6. Thêm 4 trường hợp tạm hoãn HĐLĐ

Một số trường hợp phổ biến về việc tạm hoãn HĐLĐ theo quy định hiện hành đó là: lao động nữ mang thai; người lao động bị tạm giữ; Người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, tạm giam, …

Với quy định mới sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2021 thì sẽ có thêm các trường hợp sau:

  • Nếu NLĐ thực hiện nghĩa vụ tham gia Dân quân tự vệ thì cũng được tạm hoãn HĐLĐ
  • Nếu NLĐ được bổ nhiệm làm người quản lý doanh nghiệp trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ;
  • Nếu NLĐ được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp;
  • Nếu NLĐ được ủy quyền để thực hiện quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại doanh nghiệp khác.

7. NLĐ có thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần lý do

Theo luật lao động hiện hành thì khi NLĐ làm việc mà muốn đơn phương chấm dức hợp đồng thì phải đáp ứng được 01 trong các lý do sau và phải đáp ứng thời gian báo trước, các lý do bao gồm:

  • NLĐ được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
  • Bản thân NLĐ hay gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

8. Những trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ không cần báo trước

Luật lao động mới đã cụ thể hóa những trường hợp cho phép NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần báo trước, cụ thể đó là:

  • NLĐ không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hay không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận;
  • NLĐ không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn;
  • NLĐ bị ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
  • NLĐ Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
  • Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định;
  • Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
  • NLĐ có quyền nghỉ việc nếu người sử dụng lao động cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

9. Thêm các trường hợp NSDLĐ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ

Luật mới cũng đưa ra những trường hợp mà NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ để cân bằng quyền lợi của cả 2 bên. Cụ thể như sau:

Nhằm cân bằng quyền lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động trong việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, BLLĐ năm 2019 đã bổ sung thêm 03 trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ được coi là hợp pháp:

  • Trường hợp nếu NLĐ tự ý bỏ việc không kèm theo lý do chính đáng liên tục từ 05 ngày làm việc trở lên;
  • NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
  • NLĐcung cấp không trung thực thông tin.

10. Tăng thời hạn thanh toán các khoản tiền khi chấm dứt HĐLĐ

Luật lao động mới sẽ kéo dài dài thời gian thanh toán các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên nhằm đảm bảo trách nhiệm thanh toàn giữa 2 bên.

Như vậy, trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động (khác với luật hiện hành là 7 ngày) hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên.

Trên đây là những quy định mới liên quan đến hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động cũng như người lao động cần biết trước ngày 01/01/2021. Trước khi luật này có hiệu lực, kể cả người sử dụng lao động và người lao động cũng đều cần nắm vững các vấn đề để thực hiện cho đúng.

Xem thêm: Phân hệ quản lý nhân sự tiền lương của BRAVO