Tiền lương làm thêm giờ sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân

12 Tháng Mười Hai, 2019

Nội dung trên vừa được Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể tại Công văn số 4641/TCT-DNNCN ngày 12/11/2019 về thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ.

Quy định trả tiền lương làm thêm giờ

Căn cứ Điều 97 Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội quy định, Tổng cục Thuế hướng dẫn người lao động (NLĐ) làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; đối với ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; trường hợp ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương ngày.

Nếu làm việc vào ban đêm, thì NLĐ được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

Bên cạnh đó, làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc hưởng lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, NLĐ còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Điều 106 Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội đã quy định, làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động.

Người sử dụng lao động được sử dụng NLĐ làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện:

  • Được sự đồng ý của NLĐ;
  • Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;
  • Không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm.

Ngoài ra, điểm i Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính cũng hướng dẫn các khoản thu nhập được miễn thuế bao gồm: thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, tiền công làm việc ban ngày, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.

Trong đó, phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

Theo ý kiến tham gia của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4038/LĐTBXH-PC ngày 16/9/2019, Tổng cục Thuế cho biết khi tính tiền lương làm thêm giờ cần xác định số giờ làm thêm được phép tính theo quy định của pháp luật lao động: Tối đa không quá 200 giờ trong 01 năm; trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ trong 01 năm theo quy định tại điều 106 Bộ Luật Lao động năm 2012. Nếu như làm thêm vượt quá định mức cho phép nêu trên là hành vi vi phạm pháp luật.

Như vậy, phần thu nhập từ tiền lương, tiền công do làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường cho số giờ làm thêm không vượt quá mức quy định tại Điều 106 của Bộ luật Lao động được miễn thuế TNCN.

Đồng thời, phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.

Có thể bạn quan tâm:

>> Doanh nghiệp được khấu hao nhanh tài sản cố định khi nào?

Theo Tạp chí tài chính