Mở rộng kinh doanh để tăng nhận diện thương hiệu: Cần những gì?


Những ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 đã khiến tình hình kinh doanh nhiều đơn vị gặp khó khăn. Hàng loạt nhãn hiệu, cửa hàng tại các thành phố đã phải di dời hay trả lại mặt bằng và buộc nhiều doanh nghiệp (DN) phải chuyển đổi mô hình kinh doanh.


Thế nhưng, “nguy cơ” của người này lại tạo “cơ hội” cho người khác, đó là lúc dịch bệnh đồng thời mang đến cơ hội, hỗ trợ đắc lực để nhóm DN kinh doanh chuỗi tìm được mặt bằng vừa rẻ, vừa đẹp và tăng nhận diện thương hiệu. Covid-19 đã khiến nhiều DN ngành đồ uống “xoay trục” sang mô hình kinh doanh cửa hàng lưu động, kiốt bán hàng với không gian nhỏ, nhằm giảm thiểu chi phí và tăng nhận diện thương hiệu. Đơn cử, ở thị trường cà phê, từ Highlands Coffee, Laha Café, gần đây là Ông Bầu, thay vì chỉ “chơi cửa hàng lớn”, đã nhanh chóng triển khai điểm bán take-away, xe lưu động, kiốt nhỏ hoặc kêu gọi nhượng quyền thương hiệu quầy di động để có thể tận dụng nguồn khách hàng trẻ dồi dào.


Ngoài ra, do dịch bệnh nên phải đẩy nhanh số hóa mô hình kinh doanh, tuy nhiên, một DN khó mà tồn tại hai mảng online/ offline riêng biệt, hoặc chỉ một trong hai, mà phải cân đối gộp thành một với quan hệ tương hỗ. Cụ thể, khi mở nhiều cửa hàng offline thì DN mới có độ phủ, tăng nhận diện thương hiệu và tệp khách hàng trung thành, “dọn đường” tốt cho mảng online. Và ngược lại, khi chuỗi làm tốt mặt online và hiểu người dùng, mảng offline sẽ trở thành một kênh mua hàng cộng thêm vô cùng hiệu quả.



Nhà quản trị cần xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu bài bản trước khi triển khai (Ảnh: Internet)


Thời điểm này là cơ hội cho loại hình doanh nghiệp nào?


Trước tiên, nhóm DN dựa vào bán buôn và chỉ có ít cửa hàng để giới thiệu sản phẩm. Đặc biệt là các DN kinh doanh thực phẩm, có thể tận dụng cơ hội thâu tóm mặt bằng ở vị trí đẹp với mức giá rẻ để giúp người tiêu dùng nhận biết thương hiệu tốt hơn. Các điểm bán hàng này cũng đóng vai trò là nơi tập kết hàng để giao cho khách mua trực tuyến nhanh nhất. Bên cạnh đó, việc chuyển sang bán lẻ từ bán buôn, trong lúc mặt bằng đang rẻ, mà công nợ công ty chưa thu hồi được sẽ thuận tiện mua bán, và là lời giải hợp lý cho bài toán đảm bảo việc làm cho người lao động cũng như giúp DN sống sót qua giai đoạn khó khăn.


Thứ hai, nhóm DN bán lẻ hàng tiêu dùng thiết yếu, hoặc cung cấp sản phẩm mà vốn thường được xem là “hàng xách tay”. Thời gian qua, giới đầu tư đã chứng kiến giá cổ phiếu của hàng loạt tập đoàn bán lẻ lớn như Walmart, Kroger, Costco, Target… đi lên. Chỉ riêng Amazon đã mở tới 11 cửa hàng bách hóa Amazon Fresh trên toàn nước Mỹ để thu hút người mua sắm truyền thống, hãng này còn dự định mở thêm ít nhất 28 cửa hàng nữa. Theo Bloomberg, chuỗi Amazon Fresh là cách để gã khổng lồ này gắn bó hơn nữa với các khách hàng trung thành của Prime, đồng thời tăng mức độ hiện diện và thu hút một bộ phận không nhỏ người mua sắm có thu nhập thấp, cho đến các khách hàng giàu có hơn thường xuyên đặt hàng qua mạng hướng đến Amazon. Đây được xem là bài học cho các thương hiệu tại Việt Nam. Riêng ngành mỹ phẩm, thị trường vẫn tồn tại hàng loạt loại hàng giả núp bóng “xách tay” bán tràn lan trên mạng, mở chuỗi cửa hàng vừa là cách để tăng độ nhận diện, vừa là cách tạo được uy tín với các thương hiệu lớn thông qua sức mạnh của hệ thống kênh bán hàng truyền thống.


Dù vậy, nên hiểu rằng, điều hành mô hình kinh doanh chuỗi không hề dễ, bởi công việc này đòi hỏi nền tảng quản trị tốt, nếu không sẽ “đứt gánh” rất nhanh. Từ hệ thống quản trị tài chính, hàng hóa cho đến chăm sóc khách hàng CRM và nhân sự,… mọi thứ đều cần sự chỉn chu và một chiến lược quản trị nội bộ tốt để thích ứng nhanh với tình hình dịch bệnh thay đổi đột ngột.


Thế nên, nếu phát triển các cửa hàng nhanh với mong muốn giành vị trí đắc địa, tăng độ nhận diện, nhưng lại không sở hữu nền tảng quản trị tốt và sự chuẩn bị kỹ lưỡng thì rất dễ DN bị rơi vào khủng hoảng.


Chuẩn bị thế nào?


Trước khi quyết định mở mới hay mở rộng cửa hàng, nhà quản trị phải xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu bài bản, bắt đầu từ công việc nghiên cứu, phân tích và lập chiến lược thương hiệu; tiếp đến là thiết kế, đăng ký bảo hộ hệ thống nhận diện; và cuối cùng là áp dụng vào thực tế.


Như đã biết, hệ thống nhận diện thương hiệu là tất cả loại hình và cách thức mà thương hiệu có thể tiếp cận với khách hàng, là “dấu ấn” hiện hữu ở mọi nơi của DN. Một hệ thống nhận diện thương hiệu có thể gồm tên gọi, logo, khẩu hiệu, nhạc hiệu, nhãn mác, bao bì, màu sắc chủ đạo, hình ảnh đồ họa, tài liệu giới thiệu, tài liệu đào tạo, tài liệu bán hàng, danh thiếp, ấn phẩm hỗ trợ quảng cáo, ấn phẩm văn phòng (mẫu thư, sổ tay, bút, cốc, giấy viết…), chữ ký email, hình ảnh trên các tài khoản MXH; chuỗi cửa hàng và các hình thức PR, sự kiện khác…


Nếu mở cửa hàng nhanh, đồng nghĩa mong muốn tăng độ nhận diện, nhưng nếu không sở hữu nền tảng quản trị tốt và sự chuẩn bị kỹ lưỡng thì DN rất dễ rơi vào khủng hoảng.


Hệ thống nhận diện thương hiệu chính là thứ “đập vào mắt” người tiêu dùng, để họ nhìn thấy và nhận ra thương hiệu của bạn giữa hàng ngàn doanh nghiệp khác trong cuộc sống hằng ngày. Mục tiêu của nó không chỉ là tạo sự nhận biết, thể hiện đặc thù DN mà còn nhắm đến tác động tới nhận thức, tạo cảm giác về quy mô, tính chuyên nghiệp của DN với khách hàng và công chúng, tăng khả năng cạnh tranh.


Để có hiệu quả tốt, nhà quản trị cần chú ý đến hạng mục nhận diện tại cửa hàng, không gian cửa hàng. Điểm bán là nơi các nhân viên bán hàng sẽ đại diện cho doanh nghiệp đón tiếp và phục vụ khách hàng. Đây là mấu chốt quan trọng, các điểm bán sẽ giúp truyền tải hình ảnh và thông điệp của thương hiệu, do vậy, các ứng dụng trong hạng mục này phải đồng bộ với nhận diện thương hiệu đã nêu trên. Một số yếu tố thuộc hạng mục này có thể kể tới là biển hiệu cửa hàng, biển hiệu đại lý, banner, standee, poster, POSM (point of sales material – các vật dụng khác hỗ trợ cho việc bán hàng).


Cuối cùng, không thể thiếu việc duy trì truyền thông. Trong thời điểm thuận lợi, DN nên truyền thông và trong thời điểm không thuận lợi, DN càng phải truyền thông. Theo một nghiên cứu về suy thoái kinh tế Mỹ từ năm 1980-1985, McGraw-Hill Research từng phân tích 600 đơn vị thuộc 16 nhóm ngành và thu được kết quả các DN tiếp tục duy trì hoặc tăng ngân sách truyền thông trong giai đoạn suy thoái có mức tăng doanh số gấp nhiều lần so với DN loại trừ hoặc giảm ngân sách truyền thông trong cả thời điểm giảm phát và tăng trưởng sau đó.


Tóm lại, trong tình hình dịch bệnh, một số DN lớn đã truyền thông thương hiệu bằng các chiến dịch CSR (trách nhiệm xã hội), chẳng hạn như Coca-Cola hỗ trợ 7,2 tỷ đồng để hỗ trợ công tác phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam, hay tập đoàn thời trang LVMH của Pháp sử dụng nhà máy nước hoa để sản xuất nước rửa tay sát khuẩn, nhưng lại đựng chúng trong các lọ mỹ phẩm có gắn logo Dior, Givenchy và Guerlain… Đây có thể được xem là một điểm chạm hiệu quả, vừa gửi đi thông điệp nhân văn đến cộng đồng, vừa gắn trải nghiệm thực tế với hình ảnh của nhãn hàng và hứa hẹn mở ra một tương lai những người dùng từ nước rửa tay chuyển sang ủng hộ thương hiệu, và xa hơn nữa là ủng hộ sản phẩm của LVMH.


Theo DNSG


>> Tham khảo về phần mềm quản trị doanh nghiệp tốt nhất hiện nay
>> Xem thêm: Tư duy thương hiệu tích hợp: Giúp nâng hạng thương hiệu doanh nghiệp

News

Tin tức liên quan



    tư vấn khách hàng